phù tay voi

Phù "tay voi"

   Hiện nay, phẫu thuật cắt bỏ vú vẫn là phương pháp tốt nhất đối với bệnh nhân ung thư vú ác tính di căn. Tuy nhiên, với những bệnh nhân này thì khi cắt bỏ vú không có nghĩa là bệnh chấm hết. Theo tiến sĩ Lê Hồng Quang, Phó trưởng Khoa Phẫu thuật Vú, Bệnh viện K cho biết, để điều trị ung thư vú, bệnh nhân sẽ phải cắt tuyến vú và vét hạch nách. Trong trường hợp bệnh nhân ung thư vú phát hiện ở giai đoạn muộn, đã có nhiều hạch di căn thì bệnh nhân còn phải tia xạ vào vùng nách để phòng tái phát di căn.

   “Việc phẫu thuật nạo vét hạch nách cộng với việc phải tia xạ để phòng di căn khiến đường dẫn lưu bạch huyết từ cánh tay về tuần hoàn chung bị ảnh hưởng, gây tình trạng bạch huyết ở tay dần dần ứ trệ, gây hiện tượng phù “tay voi”, khiến tay người phụ nữ sau phẫu thuật to lên rất nhiều, có những người kích thước tay còn to hơn đùi”.

   Điều đáng quan tâm ở đây là tỉ lệ bệnh nhân bị phù “tay voi” ngày càng cao. Theo thống kê của Bệnh viện K cho thấy, có từ 15-30% chị em sau phẫu thuật ung thư vú bị biến chứng phù “tay voi”. Tùy từng trường hợp mà biến chứng phù “tay voi” xuất hiện sớm hay muộn. Có người sau mổ là có biểu hiện ngay, nhưng cũng có những trường hợp xuất hiện muộn. Đáng nói, phù “tay voi” không chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ, mà có những trường hợp “tay voi” diễn tiến xấu, bệnh nhân buộc phải tháo khớp, ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống.

   Tuy nhiên, hoàn toàn có thể phòng biến chứng phù “tay voi” cho bệnh nhân ung thư vú bằng cách phát hiện bệnh sớm. Bởi phát hiện bệnh khi hạch nách chưa di căn, bác sĩ sẽ tiến hành phẫu thuật và không cần thiết phải vét hết tất cả các hạch vùng nách mà chỉ tiến hành lấy một hạch duy nhất gọi là hạch cửa (còn gọi là hạch lính gác) - hạch có nguy cơ di căn cao nhất để xét nghiệm.

bệnh nhân phù tay voiMột bệnh nhân phù tay voi

   Các chuyên gia ung bướu khuyên bệnh nhân khi kết quả xét nghiệm hạch cửa chưa có di căn thì khả năng di căn của các hạch khác hầu như không có. Vì thế sẽ không cần nạo vét hạch nách, đỡ thời gian phẫu thuật, chi phí, tránh nguy cơ biến chứng tay voi, tê bì vùng cánh tay, thậm chí liệt cánh tay...

   Ở Việt Nam hiện nay, nạo vét hạch ung thư vú là một ký thuật khá mới, và ở bệnh viện K đã ứng dụng thành công. Tuy nhiên, vì là phương pháp mới nên nhiều người bệnh và cả bác sĩ đều băn khoăn, bởi từ trước đến nay, với bệnh ung thư vú đều phải cắt tuyến vú và vét hạch nách rộng và sạch.

   Rất nhiều người có tâm lý lo sợ độ an toàn của phương pháp mới này. Thực tế, phương pháp này mới ở Việt Nam nhưng trên thế giới đã được ứng dụng hơn 10 năm nay. Các kết quả các nghiên cứu cũng cho thấy hạch cửa mang tính đại diện, phản ánh đúng tình trạng di căn. Những hạch âm tính thì việc vét hay không vét không khác nhau về tiên lượng. Vì thế, khi có kết quả xét nghiệm hạch cửa mà không di căn thì gần như chắc chắn, khả năng di căn của cách hạch khác hầu như không có. Khi đó, bệnh nhân sẽ không phải trải qua cuộc phẫu thuật nạo vét hạch nách rộng, mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh, đặc biệt là phòng ngừa biến chứng phù “tay voi”.

   Tuy nhiên, phương pháp sinh thiết hạch cửa này chỉ áp dụng khi phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, chưa có di căn. Còn hạch nách đã di căn thấy rõ thì buộc phải tiến hành vét hạch nát và tia xạ. Vì thế, chị em phụ nữ nên thường xuyên tự khám vú để phát hiện bất thường ếu có để kịp thời đi khám, phát hiện bệnh sớm.

   Bệnh nhân nên suy nghĩ ký khi lựa chọn phương pháp điềutrị cho minh, tuân thủ phác đồ điều rị của bác sĩ và đề phòng những biến chứng có thể xảy ra sau phẫu thuật. Tuy nhiên, cách tốt nhất cho chị em vẫn là phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh, nên trang bị những kiến thức về vú để bảo vệ ngực của mình. Cũng có thể sử dụng các phương pháp hỗ trự phòng ngừa ung thư, u vú như sử dụng các sản phẩm bổ sung tăng cường hỗ trợ sức khỏe cho “núi đôi” của bạn.


Theo Tú Anh.